Tách theo bộ phận để dễ nhớ mặt chữ. Đây không phải giải thích từ nguyên.
Chữ giản thể 猫 viết sang phồn thể là 貓.
Bản phồn thể dùng ở Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao. Đề thi HSK dùng chữ giản thể.
Bộ chó (犭) ôm mầm (苗) như con mèo đang rình rập, gợi nhớ “mèo”.
Cách tách để dễ nhớ, không phải từ nguyên học.
“猫” là danh từ “con mèo”, lượng từ là “只”: “一只猫”. Trong “熊猫” (gấu trúc), chữ “猫” chỉ là một phần của tên gọi, gấu trúc không phải là mèo.
我家有一只白猫。
Wǒ jiā yǒu yì zhī bái māo.
Nhà tôi có một con mèo trắng.
We have a white cat at home.