我坐车会晕车。
Wǒ zuò chē huì yùnchē.
Tôi đi xe hay bị say xe.
I get carsick when I ride in a car.
“晕车” (say xe) là động từ ly hợp, không mang tân ngữ: “我 坐 车 会 晕车”. Hay đi với “容易”: “我 容易 晕车”. Say tàu thuyền là yùnchuán, say máy bay là yùnjī. Khác “头晕” (chóng mặt nói chung, không nhất thiết do đi xe).
晕车 viết sang phồn thể là 暈車 yùn chē.
Bản phồn thể dùng ở Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao. Đề thi HSK dùng chữ giản thể.
Cách tách để dễ nhớ mặt chữ, không phải từ nguyên học.