Tách theo bộ phận để dễ nhớ mặt chữ. Đây không phải giải thích từ nguyên.
Cây (木) bị nhốt trong khung (囗), không vươn ra được → bị vây khốn, khó khăn; bị nhốt mãi một chỗ thì cũng buồn ngủ.
Cách tách để dễ nhớ, không phải từ nguyên học.
Trong khẩu ngữ là tính từ buồn ngủ: 我困了 (tôi buồn ngủ rồi). Nghĩa thứ hai là khốn khó, bị vây hãm: 困难 (khó khăn), 贫困 (nghèo khó). Nói buồn ngủ thì dùng 困, còn mệt mỏi là 累.
我困了,想睡觉。
Wǒ kùn le, xiǎng shuìjiào.
Tôi buồn ngủ rồi, muốn đi ngủ.
I am sleepy, I want to sleep.